Vĩnh Long Quê Tôi - Blog chia sẻ

Blog chia sẻ kinh nghiệm Cá Nhân

Recent Post

Hiển thị các bài đăng có nhãn di tích vĩnh long. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn di tích vĩnh long. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2021

 Tại tỉnh Vĩnh Long có di tích Công Thần miếu, tọa lạc tại phường 5, thành phố Vĩnh Long là một trong 06 miếu Hội đồng của Nam Kỳ Lục tỉnh xưa, là di tích duy nhất có 85 đạo sắc ở Vĩnh Long được gìn giữ và bảo quản  nguyên vẹn. Làm được điều này, các thế hệ nối tiếp nhau hàng trăm năm qua đã không tiếc công, tiếc của và không sợ hiểm nguy đấu trí với các thế lực thù địch, để giữ gìn một biểu tượng quí giá của truyền thống, nguồn cội và bản sắc văn hoá dân tộc.

Cùng với các loại văn bản và thư tịch cổ như chiếu, chỉ, hịch, văn bia, gia phả…, sắc phong thần được xem như một loại văn bản pháp quy mang tính chính thống, thể hiện mệnh lệnh của nhà nước phong kiến. Sắc phong là loại văn bản độc bản do đích thân vua ban. Sắc phong thần phản ánh quyền uy tối thượng của nhà vua, nó thể hiện rằng nhà vua là đấng thiên tử (con trời) xuống dân gian để cai quản con dân nên không chỉ trị vì muôn dân trong thế giới trần tục mà còn cai quản cả thế giới thần linh, kết hợp với các tín ngưỡng và đời sống tâm linh (Thành hoàng, Tổ tiên, Vật linh, Tổ sư, Sùng bái thiên nhiên…). Nhà vua thay mặt triều đình ghi nhận công lao, ban thưởng, ban chức cho các vị thần có công với nước.

Ở Vĩnh Long, thực tế hiện trạng các đạo sắc phong thần được lưu giữ tại đình, miếu, lăng... có nơi lưu giữ một đạo sắc, có nơi lưu giữ được hai. Một số di tích hiện nay không còn nhưng sắc phong được nhân dân gìn giữ rất tốt. Đặc biệt “Miếu Công Thần” là cơ sở tín ngưỡng quan trọng nhất, phụng thờ 85 sắc của 34 vị thần linh. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, Miếu Hội Đồng của tỉnh Vĩnh Long xây dựng năm Minh Mạng thứ 17 (1837) tại thôn Thanh Mỹ Đông, huyện Vĩnh Bình.

Năm 1867, thực dân Pháp chiếm được ba tỉnh miền Tây, theo chủ trương của chính quyền đô hộ là triệt tiêu tất cả các thành trì, dinh thự từ cấp huyện trở lên. Vì vậy thực dân Pháp đã phá Miếu Hội Đồng Vĩnh Long đem về cất dinh tham biện (tòa bố). Rất may, tất cả các đồ thờ cúng của nhân dân vẫn giữ được nguyên vẹn và đem về thờ tạm tại đình Thiềng Đức.

Đến ngày 27/4/1918, thống đốc Nam Kỳ thuộc Pháp, ký quyết định cho phép lập miếu, giới thân hào, nhân sĩ chủ trương đổi tên gọi Miếu Hội đồng là miếu Công Thần.

Theo nội dung 85 sắc phong của Công Thần miếu thì tất cả 34 vị thần thờ tại đây được phong tặng, hay gia tặng theo chiếu lễ Đàm Ân, nhân lễ ngũ tuần đại khánh tiết của vua Minh Mạng năm thứ 21 (1840) nhưng mãi đến tháng 7 năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) vua Thiệu Trị mới thay lời vua cha cắp sắc phong cho tỉnh Vĩnh Long. Đến tháng 7 nhuần cùng năm ấy vua Thiệu Trị tiếp tục cấp sắc gia phong cho những vị thần vừa được cấp sắc phong tháng trước. Nhưng không hiểu vì lý do gì, toàn bộ sắc phong hai đợt năm 1843 đều bị tiêu hủy. Do đó tỉnh Vĩnh Long đề nghị tái cấp và được vua chuẩn y.

Đến ngày mùng 10 tháng 12 năm Thiệu Trị thứ 7 (đầu năm 1848) vua Thiệu Trị thay mặt vua Minh Mạng tái cấp cho miếu Hội Đồng Vĩnh Long 34 đạo sắc, 34 đạo sắc phong này có thể đã viết trước ngày đóng ấn, vào khoảng tháng 08 vì tháng 09 năm ấy vua Thiệu Trị băng hà, vua Tự Đức lên ngôi nhưng mãi đến ngày mùng một tháng giêng năm sau mới sử dụng niên hiệu Tự Đức. Cũng trong ngày mùng 10 tháng 12 năm Thiệu Trị thứ 7 (1848) miếu Hội Đồng Vĩnh Long được cấp 34 đạo sắc của vua Thiệu Trị gia phong những vị thần đã thờ tại miếu. Những sắc này có thể được viết trong khoảng từ tháng 9 đến tháng 12 nên ghi niên hiệu Thiệu Trị mà lời của vua Tự Đức. Tiếp đến, ngày mùng 3 tháng 7 năm Tự Đức thứ 3 (1850) miếu Hội Đồng Vĩnh Long được cấp thêm 17 đạo sắc.

Miếu Công Thần Vĩnh Long thờ hệ thống thần linh gồm 21 vị Nhân thần và 13 vị Nhiên thần, hệ thống thần linh này do người đi khai hoang đem từ quê hương cũ vào. Trong số này có những vị thần có từ huyền thoại người Việt cổ. Có những vị thần ở vùng duyên hải miền Bắc, miền Trung, có những vị thần tiếp thu từ văn hóa Chămpa, những biểu tượng núi sông, những vị sinh tiền có công với đất nước, với vùng đất Long Hồ. 34 vị thần được thờ tại miếu Công Thần Vĩnh Long có vị được hai đạo sắc, có vị được ba đạo sắc được phong tặng vào các đời Thiệu Trị thứ bảy (1848), Tự Đức thứ ba (1850). Các vị thần được phong tặng là những người có công khai hoang mở đất, xây dựng quê hương, những người có công trong công cuộc chống ngoại xâm bảo vệ đất nước. Bên cạnh đó, còn có các vị thần bảo vệ, phù hộ nhân dân có cuộc sống an lành, giúp cho mưa thuận gió hòa, nhân dân có cuộc sống ấm no hạnh phúc. Qua nghiên cứu thần sắc, sẽ biết được công lao của các vị thần được triều đình ghi nhận qua các bậc sắc phong là thượng đẳng, trung đẳng, hạ đẳng thần (chi thần).

Công Thần miếu vẫn còn lưu giữ 28 sắc phong Hạ đẳng thần (chi thần) trong 85 sắc phong, điều mà hầu hết các di tích khác không thực hiện được. Bảo tàng tỉnh Vĩnh Long đã chọn và đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét công nhận bảo vật quốc gia.

Trong định hướng của Vĩnh Long về phát triển tiềm năng du lịch, về mặt cảnh quan và tâm linh, Công Thần miếu được chú ý là điểm để du khách đến tham quan nghiên cứu rất lý tưởng, để tìm hiểu các di chỉ của triều đình Nhà Nguyễn và khám phá cảnh quan thơ mộng bên dòng sông Tiền, một trong chín nhánh của sông Cửu Long  chảy ra biển Đông.

Về mặt tâm linh, nhân dân địa phương ghi nhận với tấm lòng tri ân về sự kiện 85 sắc thần trải qua bao lần bị đốt phá và di dời, vẫn được bảo quản nguyên vẹn cho đến ngày nay, bà con cho rằng di tích và các di chỉ này đã được thánh thần linh thiêng phù hộ, che chở. Trước đây và đến tận ngày nay, giới thương hồ xuôi ngược trên dòng sông khi đi ngang qua bến Đình Khao, nhất là những lúc sóng to gió lớn, họ đều ngã mũ cuối đầu khấn vái thần linh che chở được bình an. Chính vì thế cho nên các kỳ lễ hội được tổ chức định kỳ trong năm rất đông khách thập phương đến viếng và cúng bái để cầu an gia đạo, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, cầu cho quốc thái dân an… Đặc biệt trong lễ hội có hình thức cúng vong (thả thuyền) trên sông Tiền gọi là "thuyền tế tống ôn - tống gió", song song với tổ chức lễ cúng bái, phần hội còn có nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật dân gian như : múa lân, trò chơi dân gian, hát bội, cải lương… tạo nên nhiều màu sắc đa dạng và phong phú.


Tuy nhiên, trong nhiều năm qua lễ hội Công Thần miếu tại một di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia, là nơi chứa đựng, gìn giữ nhiều di chỉ bảo vật mang tầm quốc gia nhưng vẫn mang tính chất địa phương, chưa được quảng bá rộng rãi, do vậy chưa có điều kiện để thu hút khách du lịch trong và ngoài nước như các nơi khác đã và đang thực hiện. Vì thế cho nên cần thiết phải có kế hoạch mở rộng công tác quảng bá, giới thiệu về cảnh quan du lịch sông nước vùng đồng bằng và về mặt tâm linh trong công tác tổ chức lễ cúng viếng, cầu an…

Về mặt khoa học, sắc phong không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo mà còn là nguồn tư liệu quý chứa đựng nhiều thông tin chính xác có thể bổ khuyết cho chính sử hoặc các nguồn thư tịch cổ khác.

Việc nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về sắc phong sẽ giúp cho chúng ta hiểu thêm nhiều vấn đề về lịch sử niên đại, triều đại, nhân vật, địa danh địa phương, hội họa, thư pháp, kỹ thuật làm giấy cổ truyền…

Vì vậy, trong tương lai cần có công tác xúc tiến đầu tư in ấn, dịch thuật các di chỉ theo phương pháp hiện đại để giới thiệu và hướng dẫn du khách việc tổ chức tìm hiểu, nghiên cứu nội dung các di chỉ, có thể chỉ dẫn về thờ tự đúng với nghi thức và tập quán của di tích.

Một công tác quan trọng khác là cần xây dựng kế hoạch, vận động đầu tư thêm cơ sở vật chất, nhân lực chuyên môn về du lịch tại di tích, phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương trong công tác bảo đảm an ninh, an toàn cho du khách. Tổ chức chu đáo công tác phục vụ ăn uống, nghỉ dưỡng, giới thiệu đặc sản địa phương, có kế hoạch kết nối du lịch sinh thái tại địa phương và các vùng lân cận, giữ chân du khách lưu trú lâu hơn khi đến tham quan, du lịch ở Vĩnh Long.

Nếu có sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt và đầu tư dài hơi, mạnh mẽ chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả lớn, góp phần phát triển ngành du lịch Vĩnh Long trở thành ngành kinh tế quan trọng như định hướng của tỉnh đã đề ra./.


(Bài viết có sử dụng một số tài liệu chuyên môn của Bảo Tàng Vĩnh Long)

Lê Nguyễn

Thứ Ba, 23 tháng 2, 2021

On Thứ Ba, tháng 2 23, 2021 by Nha Đam Vĩnh Long in , ,    No comments

 Theo Đại Nam nhất thống chí, chùa Tiên Châu do Hoà thượng Đức Hội có pháp danh Tánh Minh, xây dựng lại bằng gỗ với tên gọi là Tiên Châu Di Đà Tự. Mãi đến cuối thế kỷ thứ XIX, các vị sư ở chùa Vĩnh Tràng ( Mỹ Tho) qua hành đạo. Giai đoạn này chùa Di Đà đã bị xuống cấp nên tín đồ phật tử đã trùng tu tái thiết lại ngôi chùa vào năm Kỷ Hợi (1899). Từ đó ngôi chùa có tên chính thức là Tiên Châu Tự.

Chùa Tiên Châu tọa lạc trên một cù lao sông Cổ Chiên, thuộc làng Bình Lương và An Thành (nay là ấp Bình Lương, xã An Bình, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long).

Tên chính thức của ngôi chùa này là Di Đà tự hay chùa Tô Châu. Sở dĩ gọi là Di Đà tự vì chùa thờ Phật Di Đà, còn gọi là chùa Tô Châu là vì có phong cảnh đẹp và thơ mộng với những cây liễu rủ bóng xuống dòng sông phẳng lặng trông rất giống như xứ lụa Tô Châu của Trung Quốc vậy.


Kiến trúc ngôi chùa gồm bốn khu: Tiền đường, Chính điện, Trung đường và Hậu tổ. Các gian được bố trí theo kiểu tứ trụ, được nới rộng theo hai chiều ngang, dọc nhờ các kèo dầm, kèo quyết. Bộ giàn trò bằng gỗ quý, mái lợp ngói âm dương, xung quanh đóng vách bổ kho.

Hơn một thế kỷ qua, chùa Tiên Châu được tu sửa nhiều lần, mà lần trùng tu quan trọng nhất là xây dựng vào năm 1960 theo kiến trúc thượng lầu hạ hiên hiện nay. Lần xây dựng này dùng toàn vật liệu hiện đại. Theo đó, mặt tiền chùa được xây bằng bê tông, trên nóc là một căn nhà lầu có năm ngọn tháp nhọn, một tháp lớn ở giữa, bốn tháp nhỏ xung quanh, giữa tháp phía dưới là chữ “Tiên Châu tự”. Hai gian hai bên mặt tiền được xây dựng theo kiểu cổ lầu, bên trong tôn trí tượng Thiện Hữu và Ác Hữu, cũng có hoành phi, câu đối ca tụng.

Nội điện chùa được bố trí rất đẹp, giữa tứ trụ là một khánh thờ tượng Phật Di Đà bằng đất sét rất lớn. Dưới tượng Di Đà là bộ tượng Tam thế: tượng Thích Ca tọa thiền, Thích Ca sơ sinh. Phía sau, đấu lưng với khán thờ Phật Di Đà là Phật Di Lặc cũng rất lớn. Hai bên khán thờ là nơi thờ các vị: Thập Điện Minh Vương, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Nam Tào, Bắc Đẩu, Địa Tạng, Chuẩn Đề, Hộ Pháp, Tiêu Diện Đại Sĩ, Quan công…

Trung đường và Hậu tổ là nơi thờ các vị Tổ sư Tiền bối, Tổ sư Bồ Đề Lạt Ma và thiện nam tín nữ đã quá vãng. Đây cũng là nơi tiếp khách nên treo rất nhiều tranh khuyến thiện và những câu đối có ý nghĩa thâm trầm.

Bên cạnh sự nổi tiếng về một di tích, danh lam, kiến trúc… chùa Tiên Châu còn được biết đến nhiều bởi truyền thuyết Bãi Tiên.Theo truyền thuyết, làng Bình Lương ngày xưa phong cảnh hữu tình, khí hậu thuận lợi nên nhiều người đến đây lập ấp. Người dân nơi đây chủ yếu sống bằng nghề chài lưới, đánh bắt cá tôm là chính. Họ rất lương thiện và có cuộc sống cộng đồng rất hòa thuận. Vào một đêm trăng sáng, trai tráng trong làng đều chèo thuyền ra sông đánh bắt cá. Trên bãi cồn, trong một căn lều nhỏ dưới gốc bần, một cụ già nằm thao thức. Từng cơn gió nhẹ thổi vào mát mẻ và se lạnh, mang theo mùi hương thoang thoảng của hoa lá hòa quyện với những âm thanh của côn trùng trong lòng đất tạo thành bản giao hưởng du dương trầm bổng. Cụ nhìn ra xa bãi cát trắng xóa lắp lánh ánh trăng mờ. Ánh trăng bàng bạc cùng với luồng ánh sáng lập lòe là những bóng trắng mờ ảo thướt tha uyển chuyển của bao nàng tiên nữ giáng trần, vui chơi trên bãi cát. Câu chuyện được truyền miệng trong làng và từ đó lan xa trong thiên hạ. Cũng từ đó, bãi cát trên khúc sông này được gọi là Bãi Tiên.

Ngày nay, cù lao An Bình không còn bãi cát trắng xóa như ngày nào. Xung quanh chùa nhiều nhà cửa của dân làng mọc lên san sát. Khuôn viên chùa Tiên Châu có nhiều thay đổi, một số hạng mục mới được xây dựng như: cổng chùa, tường rào, tượng Phật Thích Ca tọa thiền dưới gốc bồ đề, tượng Phật Di Lạc, tượng Phật Bà Quan Âm... tạo nên một tổng quan yên tịnh và thanh quang.

Chùa Tiên Châu được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận di tích lịch sử văn hóa, loại hình kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1994.  Đây là một ngôi chùa cổ, có cảnh đẹp không chỉ nổi tiếng ở Vĩnh Long, mà còn nổi tiếng cả vùng ĐBSCL, đã thu hút nhiều tao nhân mặc khách xưa nay./. 

Nguồn: vinhlongtourism.com.vn


Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2021

On Thứ Sáu, tháng 1 29, 2021 by Nha Đam Vĩnh Long in , ,    No comments

 Chùa La Hán


Chùa La Hán tọa lạc tại xóm Cầu Đen, phường 8, thành phố Sóc Trăng. Tương truyền ngày xưa đồng bào Hoa trong xóm vì muốn cầu nguyện nhân dân an lành, mưa thuận gió hòa, làm ăn thuận tiến, nên lập một lều tranh thờ phượng chư Phật, trong đó có hình của 18 vị La hán, nên tên chùa có tên gọi như vậy. Chùa có khuôn viên rộng lớn, với nhiều lối kiến trúc độc đáo, đặc biệt là hình ảnh “Long, Lân, Quy, Phụng” được thể hiện bên cạnh ngọn núi tháp Phổ Đà.

Chùa La Hán không chỉ là nơi để mọi người trút bỏ những lo toan, buồn phiền trong cuộc sống, hòa mình vào thế giới tâm linh mà đây còn là điểm thu hút nhiều du khách bởi cảnh đẹp chẳng khác chốn bồng lai ngự tại hạ giới.

Làng đất nung Mang Thít


Cho đến nay, làng đất nung Mang Thít đã và đang là một trong những địa phương có lò gạch, gốm thủ công lớn nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long. Bỏ qua những xô bồ, ồn ào của vùng đô thị, trong chuyến du lịch Vĩnh Long của mình, bạn hãy tìm về với Mang Thít nhé. Ngoài việc được ngắm nhìn những tàn tích còn sót lại của vương quốc gạch nung với vẻ hoài cổ, rêu phong, thì nơi đây đảm bảo sẽ hấp dẫn và lôi cuốn bạn hòa mình vào sự tĩnh lặng, an yên và thanh binh đến tột độ dẫu cho thật sự vẫn có vương chút buồn man mác.

Chùa Tiên Châu


Được xây dựng vào năm 1750, nằm trên cù lao An Bình, Chùa Tiên Châu được xem là công trình kiến trúc chùa chiền độc đáo nhất ở tỉnh Vĩnh Long. Giữa những bộn bề, lo toan trong cuộc sống thì nơi đây chính là điểm dừng chân mà bạn không nên bỏ qua để có thể tìm lại sự thanh tịnh và bình yên trong tâm hồn.

Chùa Khmer Phù Ly

Chùa Phù Ly tọa lạc tại xã Đông Thành, huyện Bình Minh, Tỉnh Vĩnh Long. Là một ngôi chùa cổ do người Khmer xây dựng nên mang lối kiến trúc rất độc đáo, đặc trưng của văn hóa Khmer, là sự kết hợp của lối kiến trúc Ấn Độ, Thái Lan và cả Camphuchia. Theo ghi chép lại thì chùa Phù Ly được người Khmer xây dựng vào năm 1672. Tính đến nay chùa đã có niên đại gần 350 năm tuổi nhưng vẻ đẹp cổ kính vẫn còn nguyên vẹn đến nay. 



Ngôi chùa có khuôn viên khá rộng rãi, trong điện có nhiều hình Phật, bên ngoài có tượng Phật nằm khổng lồ bằng đá rất trang trọng và uy nghiêm. Chùa Phù Ly là nơi linh thiêng ẩn chứa nhiều giai thoại kỳ bí. Nét cổ kính của ngôi chùa được tô điểm bởi những cây sao cổ thụ và những cây thốt nốt trong vườn chùa.

Chùa Hạnh Phúc Tăng

Chùa Hạnh Phúc Tăng tọa lạc tại ấp Trung Trạch, xã Trung Thành, Huyện Vũng Liêm, Tỉnh Vĩnh Long được xem là biểu tượng văn hóa của người Khmer. Chùa Hạnh Phúc Tăng là ngôi chùa có niên đại lâu nhất trong số các ngôi chùa của người Khmer trên địa phận Vĩnh Long. Theo ghi chép, chùa Hạnh Phúc Tăng được xây dựng vào năm 632, lúc đó đang là thế kỷ thứ VII.



Khuôn viên chùa vô cũng mát mẻ thanh tịnh với những hàng cây cổ thụ to lớn tỏa bóng mát rượi ra xung quanh, bạn sẽ quên ngay cảm giác mệt mỏi và oi bức của mùa hè khi bước vào không gian tĩnh lặng của chùa.

Chùa Ông

Tọa lạc trên cung đường Nguyễn Chí Thanh, TP Vĩnh Long, chùa Ông còn được gọi là Hội quán Phúc Kiến, Thất Phủ Miếu hay Vĩnh An Cung. Đây là công trình kiến trúc được xây dựng từ năm 1892-1909 do nhóm thợ tài hoa gồm mười người từ Phúc Kiến sang. Các tượng thờ ở đây đa số bằng gỗ, có một số bằng đồng, gốm sứ. Các cột, kèo, bộ bao lam, câu đối, hoành phi chạm lộng tinh tế, công phu mang nét kiến trúc của người Hoa. Trong những năm gần đây, ngôi chùa cổ trở thành điểm đến yêu thích của nhiều bạn trẻ gần xa với mong muốn vừa được cầu bình an, vừa có thể tậu về nhiều tấm ảnh đẹp.



Nguồn:tổng hợp




Thứ Năm, 28 tháng 1, 2021

On Thứ Năm, tháng 1 28, 2021 by Nha Đam Vĩnh Long in , ,    No comments

 Dù đã trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa, Văn Thánh Miếu mang dáng dấp vừa cổ xưa, vừa hiện đại mà vẫn nổi bật được sắc thái văn hóa phương Đông qua cấu trúc, bố cục cũng như những đường nét nghệ thuật kiến trúc tài hoa.


 Văn Thánh Miếu tọa lạc ở khóm 3, phường 4 (TP. Vĩnh Long), trên mảnh đất rộng trên 1 ha nhìn ra sông Long Hồ. Văn Thánh Miếu được xây dựng năm 1864, thờ đức Khổng Tử và các học trò của ông như Tăng Tử, Mạnh Tử, Nhan Tử…

Cổng tam quan được xây theo lối cổ lâu có ba tầng mái. Sau cổng là thần đạo đi thẳng vào điện Đại Thành, hai bên là hai hàng sao cao vút, giữa thần đạo là ba tấm bia đá ghi lại những sự việc có liên quan đến Văn Thánh Miếu.

Trong điện Đại Thành, nơi chính điện thờ Khổng Tử, hai bên Tả ban, Hữu ban thờ các thánh nho. Bên ngoài điện Đại Thành có hai miếu nhỏ (Tả vu, Hữu vu) thờ Thất thập nhị hiền. Trong khuôn viên Văn Thánh Miếu còn có ao sen và một công trình kiến trúc nhỏ nằm bên phải lối vào là Tụy Văn Lâu (còn gọi là Văn Xương Các) là nơi thờ các ngài Văn Xương và Võ Trường Toản, đồng thời làm nơi dạy học, hội họp, đàm luận văn chương, đọc sách. Hằng năm, hoạt động Ngày thơ Việt Nam thường được tổ chức nơi đây. Hai bên phải và trái trước Văn Xương Các có hai khẩu súng thần công đại bác, tương truyền là súng đã dùng để bảo vệ thành Vĩnh Long từ năm 1860.

Văn Thánh Miếu ở Vĩnh Long đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia từ năm 1991.

Theo baodaklak


Thứ Tư, 27 tháng 1, 2021

  Địa chỉ: huyện Trà Ôn

Nếu muốn tìm hiểu đặc sắc văn hóa sinh hoạt của người dân Vĩnh Long, hãy đến chợ nổi Trà Ôn. Cách vàm Trà Ôn 250m, chợ nổi ở hạ lưu sông Hậu có chiều dài trên 300m, thường họp theo con nước nên nước lớn thì chợ đông.

Hoa quả ăm ắp trên ghe xuồng (ảnh ST)

Chợ nổi Trà Ôn mang tính chất của một chợ đầu mối phân phối nông sản cho nhiều chợ nhỏ khác trong tỉnh. Bởi vậy nên dù ghé chợ trong ngày vào bất kì thời điểm nào trong ngày cũng thấy tấp nập những thuyền ghe.


Dạo chơi chợ nổi Cái Ôn, khách du lịch có cơ hội thưởng thức nhiều đặc sản Vĩnh Long nổi tiếng (ảnh ST)

Điểm xuyết trong vô số thuyền chở cây trái đủ màu sắc là những ghe bán hoa kiểng trang trí nhiều màu, tạo nên những khoảnh khắc rất “tình” trong nhịp điệu buôn bán sôi nổi.

Theo diadiemdulichvinhlong


  Nép mình bên dòng Cổ Chiên thơ mộng, hàng trăm miệng lò ở làng nghề gạch, ngói, gốm thuộc 2 huyện Long Hồ và Mang Thít trông như dãy “phố cổ” hừng hực cháy suốt ngày đêm để cho ra nhiều mẻ sản phẩm gạch, ngói và gốm đỏ cung cấp cho các thị trường trong và ngoài nước.


Sản xuất gạch, gốm ở Mang Thít. Ảnh: Minh Tâm

Gạch, ngói và gốm của Vĩnh Long có màu đỏ tự nhiên đặc trưng pha lẫn với những đốm trắng bạc, nên được thị trường Châu Âu, Châu Mỹ và một số nước Châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản ưa chuộng.

Làng nghề gạch, ngói, gốm tỉnh Vĩnh Long hình thành và phát triển lâu đời. Đến nay, theo thống kê chưa đầy đủ, làng nghề gạch, ngói, gốm của tỉnh có trên 1.000 cơ sở với gần 3.000 miệng lò đang hoạt động, là một trong những làng nghề đặc trưng của tỉnh, được nhiều công ty du lịch lữ hành quốc tế đưa vào chương trình tour để khai thác, giới thiệu với du khách trong và ngoài nước thời gian qua.

Theo baovinhlong

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2021

 Sách Đại Nam nhất thống chí từng mô tả: chợ Vĩnh Long trên bến dưới thuyền, phố xá sầm uất, nhộn nhịp, hàng hóa dồi dào, phong phú, tấp nập kẻ bán người mua, chạy dài hàng năm dặm, ghe thuyền đậu đầy bến sông; có đình miếu thờ thần trang trọng, rực rỡ, đờn ca náo nhiệt, là chỗ phố phường lớn. Vàm sông Long Hồ (thông ra sông lớn Cổ Chiên), trước mặt  miếu Thất Phủ là bến thuyền nên những người Hoa chọn nơi đây đặt Hội quán Minh Hương. Thất Phủ Miếu còn gọi là Vĩnh An Cung hay Chùa Ông hiện nay tọa lạc ở đường Nguyễn Chí Thanh, phường 5, thành phố Vĩnh Long.



Theo những tư liệu lịch sử nói về thời khẩn hoang vùng đất phương Nam, vào cuối đời nhà Minh sang đầu đời nhà Thanh, có rất nhiều người Hoa đi theo các di thần nhà Minh là Dương Ngạn Địch và Trần Thương Xuyên sang nước ta lánh nạn và lập nghiệp. Lúc ấy, biên cương Đại Việt – Champa phía Nam giáp với sông Cái Phan Rang, chúa Nguyễn Phúc Tần (tức Chúa Hiền 1620-1687) đã cho người liên hệ với Ang Nan (Nặc Nộn) là phó vương Chân Lạp yêu cầu cấp đất cho họ vào làm ăn sinh sống ở quanh vùng Prey Nokor  (Gia Định - Đồng Nai). Phó vương Chân Lạp đồng ý. Sau đó, nhóm Trần Thượng Xuyên đến khai phá ở vùng Kâmpéâp Srêkatrey (Biên Hòa) và nhóm Dương Ngạn Địch đến ở vùng Peam Mesar (Mỹ Tho). Căn cứ vào các tài liệu lịch sử thì người Hoa ở Vĩnh Long thuộc nhóm Dương Ngạn Địch. Nhà Nguyễn thời ấy cho phép họ lập hội Thất Phủ, giống như các hội người Hoa  hiện nay.

Thất phủ gồm có bảy phủ là: Ninh Ba, Phước Châu, Chương Châu, Tuyền Châu, Quảng Châu, Triều Châu và Quỳnh Châu.

Thất Phủ Miếu là công trình kiến trúc mang phong cách miền Hoa Nam Trung Quốc, thịnh hành vào các thế kỷ 19 trở về trước. Công trình được thực hiện bởi nhóm thợ tài hoa từ Phúc Kiến sang. Miếu Thất Phủ có kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc”. Phía sau là chính điện, phía trước là tiền đường, hai bên là đông sương và tây sương. Diện tích xây dựng khoảng 800 m2, xung quanh được bao kín bởi những vách gạch kiên cố.

Mái Thất Phủ Miếu lợp ngói âm dương, hai đầu hồi vút cong hình thuyền, trên nóc có tượng “lưỡng long tranh châu”. Chân viền mái ngói là những miếng ngói hình lá có tráng men màu xanh. Ở tiền đình hai cánh cửa có hình vẽ các vị hộ pháp dáng dấp oai phong, dũng mãnh. Bên trên các cửa có nhiều đèn lồng giấy cổ. Hai bên vách trước tiền đình là hai mảng tranh lồng kính rất độc đáo, mô tả lại những điển tích của người Trung Hoa. Bên trong vách hông tiền đình là những bức bích họa mô phỏng theo thi pháp nổi tiếng “Thiếp Lan Đình” đời Đường. Một đặc điểm gây sự chú ý cho du khách là bên trong miếu Thất Phủ xây dựng theo kiểu cung đình, có năm cửa cái, hai bên có hai cửa sổ. Bộ giàn trò (khung, sườn) của Thất Phủ Miếu bằng danh mộc được trang trí, chạm trổ rất mỹ thuật và chắc chắn. Mỗi bộ phận trong ngôi miếu đều như những tác phẩm nghệ thuật tinh xảo và độc đáo.

Thất Phủ Miếu thờ Quan Thánh Đế Quân, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Phước Đức Chánh Thần. Chánh điện miếu được trang trí trang nghiêm và thẩm mỹ với mấy chục bộ bao lam, hoành phi chạm lộng tinh tế, thếp vàng chói lọi.

Hằng năm, vào ngày 13-1 và 13-5 âm lịch tại Thất Phủ Miếu diễn ra lễ cúng vía Ông (Quan Công) với các nghi thức như: dâng hương, múa lân, sư rồng, biễu diễn võ thuật, cúng hoa đăng, phóng sinh… thu hút đông đảo người dân và du khách tham dự.

Miếu Thất Phủ đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa năm 1994.


Theo baodaklak